KIEN THUC KINH TE

Thuật ngữ

/ Kiến thức kinh tế / Thuật ngữ
Tra cứu từ khóa
A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z
BANK TRUST CUSTODIAL ACCOUNT / TÀI KHOẢN GIÁM HỘ TẠI NGÂN HÀNG ỦY THÁC

ĐỊNH NGHĨA

Một dạng tài khoản hưu trí cá nhân (IRA) được thông qua bởi Đạo luật đảm bảo thu nhập khi về hưu của người lao động năm 1974 (ERISA), trong đó các khoản đóng góp được trả trực tiếp vào các công cụ tài chính sinh lời tại ngân hàng hoặc tài khoản cá nhân tự định hướng. Sự khác biệt giữa tài khoản cá nhân tự định hướng và các công cụ tài chính sinh lời của ngân hàng là nhà đầu tư chịu trách nhiệm về các quyết định đầu tư. Tài khoản cá nhân tự định hướng thường được thiết lập thông qua môi giới và bị tính một khoản phí cao hơn phí giao dịch. 

GIẢI THÍCH

ERISA là luật liên bang được ban hành để đảm bảo các chương trình bảo hiểm hưu trí (pension/retirement plans) của người sử dụng lao động là công bằng và an toàn. Điều luật này thiết lập các quy tắc và quy định để quản lý các chương trình bảo hiểm hưu trí cá nhân, bao gồm các yêu cầu ủy quyền, cơ chế tài trợ, cùng thiết kế và mô tả kế hoạch chung.

 
BANK STRESS TEST / BÀI KIỂM TRA SỨC CHỊU ĐỰNG NGÂN HÀNG

ĐỊNH NGHĨA

Một phân tích thực hiện dưới các kịch bản kinh tế không thuận lợi, được thiết để để xác định liệu một ngân hàng có đủ vốn để chịu được tác động của những tiến triển bất lợi hay không. Bài kiểm tra sức chịu đựng có thể được tiến hành trong nội bộ ngân hàng như một phần của quản trị rủi ro, hoặc bởi các cơ quan giám sát theo quy định giám sát trong lĩnh vực ngân hàng của các cơ quan này. Các bài kiểm tra này là phương tiện để phát hiện ra các điểm yếu trong hệ thống ngân hàng ở giai đoạn đầu, nhờ đó ngân hàng và cơ quan quản lý có thể đưa ra các biện pháp phòng ngừa.

GIẢI THÍCH

Bài kiểm tra sức chịu đựng tập trung vào tác động của số rủi ro cốt yếu, chẳng hạn như rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường, và rủi ro thanh khoản - tới tình hình tài chính ngân hàng trong tình huống khủng hoảng. Kết quả của bài kiểm tra dựa trên các giả định được thực hiện trong các kịch bản kinh tế khác nhau, được Quỹ tiền tệ quốc tế (International Monetary Fund) mô tả là "ít có khả năng xảy ra nhưng vẫn có vẻ hợp lý". Bài kiểm tra sức chịu đựng ngân hàng nhận được nhiều sự chú ý vào năm 2009, khi khủng hoảng tài chính toàn cầu diễn ra sau cuộc Đại khủng khoảng (Great Depression) đã khiến cho nhiều ngân hàng và tổ chức tài chính rơi vào tình trạng thiếu vốn trầm trọng.

BANK SECRECY ACT - BSA / ĐẠO LUẬT BẢO MẬT NGÂN HÀNG - BSA

ĐỊNH NGHĨA

Luật chính phủ được ban hành vào năm 1970, nhằm ngăn chặn việc tội phạm sử dụng các tổ chức tài chính như công cụ để che giấu doanh thu bất chính và rửa tiền. Đạo luật này yêu cầu các ngân hàng và các tổ chức tài chính cung cấp chứng từ (chẳng hạn báo cáo giao dịch tiền mặt) bất cứ khi nào khách hàng tiến hành các giao dịch liên quan đến những khoản tiền đáng kể (từ 10,000 đô la trở lên), mà xuất hiện những dấu hiệu đáng ngờ. Bằng cách này, chính quyền có thể dễ dàng tái thiết lại toàn bộ cấu trúc.

Thuật ngữ này còn được gọi là:"Đạo luật báo cáo giao dịch tiền tệ và ngoại tệ".

GIẢI THÍCH

Không nhất thiết tất cả các giao dịch vượt quá 10,000 đô la đều được ghi lại. Đạo luật bảo mật ngân hàng (BSA) có một danh sách các trường hợp ngoại lệ không yêu cầu cung cấp chứng từ. Các cơ quan/ văn phòng chính phủ và công ty được liệt kê trên phần lớn các sàn giao dịch ở Bắc Mỹ là ví dụ cho đối tượng miễn trừ này.

Trong khi đạo luật này rất hữu dụng để chống lại các hoạt động phạm pháp, xét trên phương diện bảo mật, đạo luật vẫn gây tranh cãi bởi có rất ít hướng dẫn chỉ ra thế nào được xem là đáng ngờ, và cơ quan thực thi pháp luật không cần có trát triệu tập của tòa án để nhận được quyền truy cập thông tin.

BANK RECONCILIATION STATEMENT / THÔNG BÁO ĐỐI CHIẾU CỦA NGÂN HÀNG

ĐỊNH NGHĨA

Một hình thức cho phép mỗi người so sánh hồ sơ tài khoản ngân hàng cá nhân với hồ sơ ghi chép số dư tài khoản cá nhân của ngân hàng, để phát hiện bất cứ sự sai lệch nào có thể xảy ra.

GIẢI THÍCH

Bởi vì có sự khác biệt giữa thời gian nhập dữ liệu vào hệ thống ngân hàng và thời gian nhập dữ liệu và hệ thống cá nhân, đôi khi có sự sai lệch trong số dư tài khoản. Mục đích của việc đối chiếu là để xác định xem có phải sai lệch là do sai sót thay vì do thời gian.

BANK RATE / LÃI SUẤT NGÂN HÀNG

ĐỊNH NGHĨA

Là lãi suất mà ngân hàng trung ương một quốc gia cho các ngân hàng trong nước vay tiền. Những khoản vay này thường trong khoảng thời gian rất ngắn. Quản lý lãi suất ngân hàng là phương pháp ưa thích mà trong đó ngân hàng trung ương có thể điều chỉnh mức độ hoạt động của nền kinh tế. Lãi suất ngân hàng thấp có thể giúp mở rộng nền kinh tế khi thất nghiệp gia tăng, bằng cách giảm chi phí vốn cho người đi vay. Ngược lại, lãi suất ngân hàng cao giúp thắt chặt nền kinh tế, khi lạm phát cao hơn dự kiến.

Lãi suất ngân hàng cũng có thể chỉ mức lãi suất mà ngân hàng tính cho các khoản vay của khách hàng.

GIẢI THÍCH

Ở Mỹ, lãi suất ngân hàng thường được gọi là Tỉ lệ lãi suất cho vay nhằm đáp ứng yêu cầu dự trữ bắt buộc (Federal funds rate). Lãi suất ngân hàng được quy định gián tiếp bởi Ủy ban thị trường mở liên bang (FOMC), bằng cách mua hoặc bán chứng khoán kho bạc để điều tiết mức cung tiền tệ. Những hành động này để đẩy tỉ lệ lãi suất cho vay nhằm đáp ứng yêu cầu dự trữ bắt buộc hiện tại (effective federal funds rate) gần hơn với lãi suất mục tiêu. Việc điều tiết nền kinh tế thông qua quản lý cung tiền được gọi là chính sách tiền tệ.

BANK PANIC OF 1907 / KHỦNG HOẢNG NGÂN HÀNG NĂM 1907

ĐỊNH NGHĨA

Một cuộc khủng hoảng tài chính diễn ra vào đầu thế kỷ 20, là kết quả của kế hoạch nhằm hạn chế sự phổ biến của các công ty tín thác. Ngành ngân hàng đã bị xáo trộn bởi sự thành công của các công ty tín thác mới nổi, vì vậy họ cố gắng gây ra sự hủy hoại về tài chính cho Công ty tín thác Knickerbocker (Knickerbocker Trust) của F. Augustus để làm giảm sự ủng hộ của công chúng đối với các công ty tín thác. Vì Knickerbocker Trust không thể nhận được bất cứ sự hỗ trợ nào từ các tổ chức tài chính khác tránh khỏi bị phá sản, công chúng bắt đầu lo ngại rằng ngành ngân hàng và tín thác đang gặp phải vấn đề về thanh khoản và do đó họ bắt đầu rút tiền hàng loạt.

GIẢI THÍCH

Cuộc khủng hoảng cuối cùng đã được dập tắt khi chính phủ liên bang viện trợ hơn 30 triệu đô la để giải cứu khủng hoảng, và khi J.P.Morgan cùng các tổ chức khác dàn xếp các thỏa thuận để mang niềm tin và tính thanh khoản trở lại cho thị trường tài chính.

Một trong những kết quả quan trọng của cuộc khủng hoảng tài chính năm 1907 là sự hình thành của Cục dự trữ liên bang Mỹ. Nhiều người cảm thấy việc triển khai thành công hệ thống ngân hàng trung ương có thể ngăn ngừa các vấn đề trong tương lai bằng cách cung cấp thêm các nguồn tài sản lưu động để các tổ chức tài chính khai thác.

BANK OF JAPAN - BOJ / NGÂN HÀNG NHẬT BẢN - BOJ

ĐỊNH NGHĨA

Có trụ sở đặt tại quận kinh doanh Nihonbashi ở Tokyo, Ngân hàng Nhật bản là Ngân hàng trung ương của Nhật. Ngân hàng chịu trách nhiệm phát hành và quản lý tiền tệ cùng chứng khoán kho bạc, thực hiện chính sách tiền tệ, duy trì tính ổn định của hệ thống tài chính Nhật Bản, và cung cấp dịch vụ thanh toán và thanh toán bù trừ.

Giống hầu hết các ngân hàng trung ương, Ngân hàng Nhật Bản cũng biên soạn và tổng hợp số liệu kinh tế và đưa ra các nghiên cứu cùng phân tích kinh tế.

GIẢI THÍCH

Vào thời điểm viết (giữa năm 2006), thống đốc Ngân hàng Nhật bản là Masaaki Shirakawa, người đảm nhiệm vị trí này vào tháng 4 năm 2008. Trụ sở ngân hàng được đặt tại nơi từng là xưởng đúc tiền vàng trong quá khứ, nằm gần thành phố Ginza, hay quận "đúc tiền bạc".

Ngân hàng Nhật Bản phát hành tiền giấy đầu tiên và năm 1885, và ngoại trừ một khoảng thời gian ngắn sau Chiến tranh thế giới thứ hai, ngân hàng hoạt động liên tục kể từ đó.

BELLWETHER STOCK / CỔ PHIẾU ĐẦU ĐÀN

ĐỊNH NGHĨA

Một cổ phiếu được tin là một chỉ số hàng đầu được dùng để định hướng cho toàn ngành, ngành hoặc thị trường nói chung. Các cổ phiếu đầu đàn thường được sử dụng để xác định hướng đi của một ngành hoặc thị trường trong ngắn hạn.

GIẢI THÍCH

Các cổ phiếu đầu đàn thường là các cổ phiếu có giá trị vốn hóa thị trường lớn mà khi nó hoạt động tốt sẽ báo hiệu thị trường lên giá nhưng khi hoạt động kém có thể là báo hiệu của một thị trường giá xuống. Nhiều cổ phiếu khác nhau có thể được phân loại thành các chứng khoán chủ đạo; tuy nhiên, trong lịch sử thì các loại cổ phiếu về ngành đóng tàu và đường sắt từng là những chứng khoán chủ đạo của nền kinh tế Mỹ.

BELLWETHER / CHỨNG KHOÁN CHỦ ĐẠO

ĐỊNH NGHĨA

Một sự kiện hay chỉ báo cho thấy khả năng hiện diện của một xu hướng nào đó. Nhà phân tích chỉ cần xem xét các biểu hiện của một số công ty / cổ phiếu và trái phiếu nào đó là đã có thể chỉ ra được tình trạng của nền kinh tế và thị trường tài chính bởi vì các biểu hiện của chúng có mối tương quan chặt chẽ đến một xu hướng nhất định nào đó. Các công ty đầu đàn (bellwether companies) thường là những người dẫn đầu thị trường trong các lĩnh vực tương ứng của họ.

GIẢI THÍCH

Mổ cổ phiếu chủ đạo là cổ phiếu được sử dụng để đánh giá đặc điểm của thị trường nói chung. Trong nhiều năm nay thì General Motors là một ví dụ về cổ phiếu chủ đạo cho nên người ta mới có câu: "Điều gì là tốt cho GM là tốt cho nước Mỹ". Tương tự như vậy, sự sụt giảm nhanh chóng lượng thép có sẵn có thể là tín hiệu phục hồi kinh tế bởi vì thép được dùng trong sản xuất và xây dựng.

Từ này được kết hợp bởi 2 chữ "bell" và "wether" bởi nó gợi nhớ đến hình ảnh người chăn cừu thường xuyên đen chuông vào cổ những con cừu đầu đàn để xác định xem chúng đang ở đâu trên cánh đồng.

BELL / TIẾNG CHUÔNG

ĐỊNH NGHĨA

Tiếng chuông đánh dấu ngày mở và đóng cửa giao dịch trên nhiều sàn giao dịch tài chính có tổ chức mà nổi bật nhất là NYSE.

GIẢI THÍCH

Tiếng chuông thường bắt đầu vang lên từ năm đến mười giây trước khi kết thúc ngày giao dịch.

 
BEHAVIORIST / CHỦ NGHĨA HÀNH VI

ĐỊNH NGHĨA

1. Một người mà chấp nhận hoặc cho là đúng học thuyết về chủ nghĩa hành vi (chủ nghĩa hành vi tài chính trong đầu tư).
2. Một nhà tâm lý học người đăng kí hành vi.

GIẢI THÍCH

Khi nói đến đầu tư, mọi người có thể không chắc chắn như họ nghĩ. Các nhà hành vi cho rằng các nhà đầu tư thường hành xử phi lý khi đưa ra các quyết định đầu tư do đó giá chứng khoán không chính xác, điều mà làm mất đi sự hiệu quả của thị trường, do đó, là cơ hội để kiếm tiền.

BEHAVIORAL ACCOUNTING / KẾ TOÁN HÀNH VI

ĐỊNH NGHĨA

Một phương pháp kế toán tính về những người ra quyết định quan trọng như là một phần giá trị của một công ty. Kế toán hành vi được phát triển để làm cho các hiệu ứng của hành vi trở nên minh bạch đối với các bên liên quan tiềm năng và hiện tại. Nó được thực hiện để có thể hiểu biết rõ hơn về tác động vào quá trình, triết lí kinh doanh và các biến số về con người là có giá trị đối với tổ chức nói chung, trong hiện tại và tương lai.

Kế toán hành vi cìn được biết đén như là "kế toán nguồn nhân lực"

GIẢI THÍCH

Trong kế toán hành vi, giá trị của một công ty vượt ra xa ngoài những con số và cố gắng bao gồm được cả yếu tố con người.

Lấy ví dụ về hai công ty, công ty ABC và công ty DEF, có bản báo cáo tài chính như nhau. Nếu công ty ABC có một lực lượng lao động giàu kinh nghiệm hơn, và quản lý chắc chắn hơn phía DEF từ đó mà công ty ABC đắt giá hơn. Kế toán hành vi nỗ lực đo lường và ghi nhận khía cạnh này của một doanh nghiệp. Kế toán hành vi được các học giả đặc biệt quan tâm do sự ảnh hưởng của hạn chế về mặt thời gian, trách nhiệm giải trình, sự đánh giá, và động lực cần có để đưa ra quyết định mang tính cá nhân.

BEGINNING MARKET VALUE (BMV) / GIÁ TRỊ THỊ TRƯỜNG BẮT ĐẦU

ĐỊNH NGHĨA

Việc định giá mà tại đó tài sản nên được trao đổi theo ngày xuất xứ, và là khởi đầu của mỗi thời kì. Giá trị thị trường bắt đầu tại điểm xuất phát của mỗi thời kì bằng với giá trị thị trường ở điểm kết thúc của thời kì trước đó.

GIẢI THÍCH

Giá trị thị trường dựa theo cả người mua và người bán ( hiệu quả, thị trường), sẽ coi là giá trị đúng của tài sản. Giá trị thị trường là tương tự với giá cả thị trường mà thị trường duy trì được tính hiệu quả và những người tham gia thị trường hợp lý.

BEGGAR-THY-NEIGHBOR / BẦN CÙNG HÓA NGƯỜI LÁNG GIỀNG

ĐỊNH NGHĨA

Một chính sách thương mại quốc tế mà áp dụng sự phá giá tiền tệ và hàng rào bảo vệ để giảm bớt những khó khăn về chi phí của quốc gia này bằng đặt áp lực lên các quốc gia khác. Trong khi chính sách này có thể giúp đỡ khắc phục nền kinh tế khó khăn của quốc gia thì nó sẽ gây tổn hại tới đối tác thương mại của quốc gia đó, làm xấu đi tình trạng kinh tế của nó.

GIẢI THÍCH

Tên của chính sách có nguồn gốc từ chính hệ quả tác động của nó, tạo ra một sự khốn đốn cho các quốc gia láng giềng. Mục đích của chiến lược bần cùng hóa láng giềng là làm tăng cầu xuất khẩu cho quốc gia của bạn đồng thời giảm sự lệ thuộc vào nhập khẩu. Nó thường được thực hiện thông qua chính sách phá giá đồng tiền nước khác, khiến hàng hóa xuất khẩu của bạn rẻ hơn so với các quốc gia khác

BEFORE REIMBURSEMENT EXPENSE RATIO / HỆ SỐ CHI PHÍ TRƯỚC BỒI HOÀN

ĐỊNH NGHĨA

Tỷ lệ phần trăm tài sản ròng trung bình được sử dụng để trang trải chi phí hoạt động chu kì hàng năm của việc quản lý một quỹ tương hỗ trước bồi hoàn được thực hiện bởi các nhà quản lý.

Hệ số chi phí trước bồi hoàn còn được biết đến như là "tỷ suất chi phí gộp"

GIẢI THÍCH

Chi phí thực hiện một quỹ tương hỗ bao gồm chi phí quản lý, chi phí giao dịch và các loại chi phí kinh doanh khác. Một số loại chi phí được hoàn trả bởi sự quản lý. Chi phí bồi hoàn thường kể cả chi phí không trực tiếp như là phí giao dịch từ hoạt động thương mại với các quỹ tương hỗ khác, phí giao dịch kết hợp với các quỹ giao dịch trao đổi, hoặc cổ tức được trả từ một tài sản đang xuống giá.
Bồi hoàn cũng xảy ra khi hệ số chi phí quỹ bị hạn chế. Trong các quỹ hạn mức, một giới hạn chi phí được tạo ra để thay thế cho một phí trần cho các cổ đông cuả quỹ. Hạn mức thường thể hiện như là một tỉ lệ phần trăm và là điểm nổi bật trong bản cáo bạch của quỹ.

BEEP / BEEP

ĐỊNH NGHĨA

Tiếng lóng trong ngành tài chính ám chỉ "điểm cơ bản". Thuật ngữ này đã từng trở lên thông dụng như là một cách dễ dàng hơn để đề cập đến điểm cơ bản được viết tắt là "BFS". Đôi khi nó cũng được phát âm là "bips".

GIẢI THÍCH

Điểm cơ bản được tính là 1/100 của điểm phần trăm trong phạm vi về lãi suất và lợi suất trái phiếu. Ví dụ, mức tăng lãi suất 0.25 điểm phần trăm của Cục dự trữ Liên Bang thường được gọi là tăng 25 điểm cơ bản và đối với những người làm trong ngành tài chính thì nó sẽ là tăng 25 beep.

BED AND BREAKFAST DEAL / GIAO DỊCH MUA BÁN GIƯỜNG NGỦ VÀ BỮA SÁNG

ĐỊNH NGHĨA

Ở Anh Quốc, đây là thông lệ theo đó người nắm giữ chứng khoán bán nó vào ngày cuối cùng của năm tài chính rồi mua lại vào sáng hôm sau. Các thỏa thuận được thực hiện giữa bên cầm giữ chứng khoán và nhà môi giới để dàn xếp hoạt động bán và mua lại.

 

GIẢI THÍCH

Giao dịch mua bán giường ngủ và bữa sáng được thực hiện nhằm duy trì một danh mục đầu tư cùng lúc giảm đến mức tối thiểu thuế trên thặng dư vốn. Các vị thế trên thị trường đóng cửa vào cuối năm và ngay lập tức được mở cửa trở lại vào ngày đầu tiên của năm tài chính mới. Bởi vì thông lệ này chủ ý tìm cách hạn chế thuế trên thặng dư vốn nên là các sở thuế đã hành động để giảm thiểu việc các giao dịch giường ngủ và bữa sáng xảy ra. 

BLACK MONDAY / THỨ HAI ĐEN

ĐỊNH NGHĨA

Vào ngày 19 tháng 10 năm 1987 chỉ số bình quân công nghiệp Dow Jones (DJIA) tụt xuống gần 22% trong một ngày. Sự kiện đó đánh dấu khởi đầu của một sự suy giảm trên thị trường chứng khoán toàn cầu, khiến Thứ Hai Đen trở thành một trong những ngày khét tiếng nhất trong lịch sử tài chính trong thời gian gần đây. Đến cuối tháng, hầu hết các sàn giao dịch lớn đã giảm hơn 20%.

GIẢI THÍCH

Thật thú vị, nguyên nhân của sự sụt giảm lớn này không thể quy cho bất kỳ sự kiện tin tức nào bởi vì không có sự kiện tin tức lớn được phát hành vào cuối tuần trước khi xảy ra sự sụp đổ này. Trong khi có nhiều giả thuyết cố gắng giải thích tại sao sự sụp đổ này xảy ra , thì phần lớn các ý kiến cho rằng khủng hoảng kinh tế hàng loạt đã dẫn tới cuộc sụp đổ leo thang.
Kể từ Thứ Hai Đen, một số cơ chế bảo vệ đã được xây dựng trên thị trường để ngăn chặn việc bán chứng khoán ồ ạt , chẳng hạn như kiềm chế giao dịch và tạm ngừng giao dịch.

BLACK MARKET / CHỢ ĐEN

ĐỊNH NGHĨA

Là nơi các hoạt động kinh tế diễn ra bên ngoài các kênh do chính phủ phê chuẩn. Các giao dịch trên thị trường chợ đen thường " ngầm" diễn ra với mục đích giúp những người tham gia tránh bị  kiểm soát giá cả hoặc thuế của chính phủ. Thị trường chợ đen cũng là nơi mà các chất hoặc sản phẩm bất hợp pháp - như thuốc bất hợp pháp, súng hoặc hàng ăn cắp - được mua và bán.

GIẢI THÍCH

Mặc dù thị trường chợ đen thường liên quan đến các hoạt động tội phạm, liên quan đến ma túy hoặc vũ khí, nhưng nó cũng có một thành phần tài chính: thị trường trao đổi tiền đen hầu như luôn xuất hiện khi chính phủ kiểm soát tỷ giá hối đoái ngăn chặn việc sử dụng tỷ giá hối đoái tự nhiên trên thị trường toàn cầu.

BLACK LIQUOR TAX CREDIT / TÍN DỤNG THUẾ RƯỢU ĐEN

ĐỊNH NGHĨA

Một thuật ngữ được đặt ra bởi ngành công nghiệp lâm sản để mô tả một chương trình trợ cấp lạm dụng trong ngành. Rượu đen là sản phẩm phụ của việc tạo bột gỗ và được sử dụng làm nhiên liệu. Là một phần của dự luật vận chuyển và ethanol năm 2005, chính phủ Hoa Kỳ đã tạo ra một khoản tín dụng thuế được thiết kế để khuyến khích các công ty sử dụng nhiên liệu sinh học bằng cách trộn chúng với nhiên liệu hóa thạch (được coi là nguồn năng lượng hiện có của họ) .Một phần mở rộng của dự luật năm 2007 đã tạo ra một lỗ hổng trong đó các công ty giấy, những người đã sử dụng nhiên liệu sinh học (rượu đen) đã làm ngược lại những gì dự luật dự định, thêm dầu diesel vào rượu đen của họ, để đủ điều kiện cho tín dụng thuế.

GIẢI THÍCH

Các công ty giấy sử dụng hỗn hợp nhiên liệu sinh học / nhiên liệu hóa thạch sau đó giúp họ có đủ điều kiện cho tín dụng thuế, vi phạm tinh thần của dự luật nhưng không vi phạm luật pháp và cho phép họ yêu cầu khoản tín dụng thuế hàng tỷ đô la. Tín dụng thuế đã làm méo mó thị trường toàn cầu bằng cách giảm giá một số sản phẩm giấy của Hoa Kỳ và khiến Canada tạo ra một khoản trợ cấp tương tự để duy trì khả năng cạnh tranh với các công ty lâm sản của Hoa Kỳ. Tín dụng thuế đã được lên kế hoạch hết hiệu lực vào cuối năm 2009.

 
BLACK KNIGHT / HIỆP SĨ ĐEN

ĐỊNH NGHĨA

Một công ty thực hiện mua lại một công ty với một thái độ thù địch.Trong sáp nhập và mua lại , một hiệp sĩ đen cố gắng thâu tóm các công ty bị mua lại dù các công ty đó không mong muốn. Khi một công ty đang đối mặt với sự tiếp quản thù địch của một hiệp sĩ đen, một hiệp sĩ trắng có thể xuất hiện để đưa ra một cách nhằm tránh sự tiếp quản thù địch bằng một sự tiếp quản thân thiện.

GIẢI THÍCH

Hiệp sĩ đen cố gắng tiếp quản thù địch các công ty bị mua lại. Một hiệp sĩ trắng có thể giúp công ty đó bằng cách đưa ra các điều khoản cho việc tiếp quản thân thiện.  Một hiệp sĩ màu xám là một công ty cung cấp với giá thầu không mong muốn, trong khi một công ty khác đang đàm phán tiếp quản với công ty bị mua lại . Một hiệp sĩ màu vàng là một công ty khởi xướng một sự tiếp quản thù địch, nhưng thay đổi chiến thuật trong quá trình để đàm phán về các điều khoản dễ chịu hơn.

BLACK FRIDAY / NGÀY THỨ 6 ĐEN TỐI

ĐỊNH NGHĨA

1. Là một ngày thảm họa thị trường chứng khoán. Ban đầu, ngày 24 tháng 9 năm 1869, được coi là ngày thứ Sáu đen tối. Sự sụp đổ bởi các nhà đầu cơ vàng, bao gồm Jay Gould và James Fist, những người đã cố gắng lũng đoạn thị trường vàng. Nỗ lực thất bại và thị trường vàng sụp đổ, khiến thị trường chứng khoán lao dốc.

2. Một ngày sau Lễ Tạ ơn ở Hoa Kỳ. Các nhà bán lẻ thường thấy một sự gia tăng trong doanh số bán hàng và coi đây là sự khởi đầu của mùa mua sắm. Việc các nhà bán lẻ đưa ra các chương trình khuyến mãi đặc biệt và mở cửa sớm để thu hút khách hàng là điều phổ biến.

GIẢI THÍCH

1. Thuật ngữ "đen" đã được sử dụng để mô tả những ngày thảm họa khác trên thị trường tài chính. Ví dụ, vào Thứ Ba Đen, ngày 29 tháng 10 năm 1929, thị trường suy giảm nhanh chóng, báo hiệu sự bắt đầu của cuộc Đại suy thoái. Sự sụt giảm lớn nhất trong lịch sử thị trường chứng khoán xảy ra vào Thứ Hai Đen, ngày 19 tháng 10 năm 1987, khi Chỉ số bình quân công nghiệp Dow Jones giảm mạnh hơn 22%.

2. Ý tưởng đằng sau thuật ngữ "Thứ Sáu Đen" đó là ngày mà các cửa hàng bán lẻ có đủ doanh số để đưa họ "vào màu đen" - một ám hiệu kế toán ám chỉ việc thực hiện ghi lại các khoản lỗ màu đỏ và lợi nhuận bằng màu đen .

BLACK ECONOMY / KINH TẾ NGẦM

ĐỊNH NGHĨA

Là phân khúc thị trường hoạt động kinh tế của một quốc gia có nguồn gốc từ các nguồn nằm ngoài các quy tắc và quy định liên quan đến thương mại của quốc gia đó. Các hoạt động có thể là hợp pháp hoặc bất hợp pháp tùy thuộc vào hàng hóa và / hoặc dịch vụ có liên quan.

GIẢI THÍCH

Chẳng hạn, một công nhân xây dựng được trả lương bí mật sẽ không bị khấu trừ thuế, chủ lao động cũng không phải trả thuế cho thu nhập của người đó. Công việc xây dựng là hợp pháp; chính việc không nộp thuế đã phân loại việc đó như là một phần của nền kinh tế ngầm. Buôn bán vũ khí bất hợp pháp là một ví dụ về hoạt động kinh tế ngầm bất hợp pháp.
Chợ đen là những hàng hóa và dịch vụ hình thành nền kinh tế đen (hoặc ngầm). Thông thường, thị trường chợ đen xuất hiện khi chính phủ hạn chế hoạt động kinh tế đối với hàng hóa và dịch vụ cụ thể, bằng cách làm cho giao dịch trở thành bất hợp pháp hoặc đánh thuế mặt hàng quá nhiều đến nỗi giá quá cao để ngăn cấm. Một thị trường chợ đen xuất hiện làm cho hàng hóa và dịch vụ bất hợp pháp sẵn có hoặc làm cho các mặt hàng đắt tiền có sẵn với số tiền nhỏ hơn (chẳng hạn như phần mềm lậu).

BENEFICIARY CLAUSE / ĐIỀU KHOẢN NGƯỜI HƯỞNG QUYỀN LỢI BẢO HIỂM

ĐỊNH NGHĨA

Điều khoản về người thụ hưởng là một điều khoản trong một hợp đồng bảo hiểm nhân thọ hoặc phương tiện đầu tư khác, chẳng hạn như một niên kim hoặc IRA cho phép chủ hợp đồng bảo hiểm chỉ định các cá nhân làm người hưởng quyền lợi bảo hiểm thứ nhất và thứ hai. Chủ hợp đồng bảo hiểm thường có thể thay đổi các đối tượng thụ hưởng bất cứ lúc nào bằng cách làm theo các chỉ dẫn có trong hợp đồng bảo hiểm.

GIẢI THÍCH

Thuật ngữ "người hưởng quyền lợi bảo hiểm" chỉ ra các đặc điểm của người nhận tiền hoặc các quyền lợi khác theo quy định của hợp đồng bảo hiểm hoặc đơn ủy thác. Điều khoản người hưởng quyền lợi bảo hiểm xác định người này là ai; nói cách khác, (những) cá nhân nào sẽ được hưởng lợi từ quỹ này hoặc các lợi ích khác từ chủ hợp đồng bảo hiểm hoặc nhà tài trợ.

BELOW FULL EMPLOYMENT EQUILIBRIUM / DƯỚI ĐIỂM CÂN BẰNG VIỆC LÀM

ĐỊNH NGHĨA

Một thuật ngữ kinh tế vĩ mô được sử dụng để mô tả trường hợp tổng sản phẩm quốc nội (GDP) ngắn hạn đang thấp hơn GDP thực tế tiềm năng dài hạn của nền kinh tế. Theo đó thì sẽ có một lỗ hổng suy thoái được tạo ra giữa hai mức GDP (được đo bằng chênh lệch giữa GDP tiềm năng và GDP hiện tại) nếu nền kinh tế ở trạng thái cân bằng trong dài hạn.

GIẢI THÍCH

Khi một nền kinh tế hiện đang ở dưới mức GDP thực tế dài hạn của nó thì sẽ xảy ra tình trạng nhiều nguồn lực chưa được toàn dụng và sẽ dẫn đến suy thoái kinh tế. Mức GDP thực tế dài hạn thể hiện những gì một nền kinh tế có thể tạo ra nếu nó toàn dụng được đầy đủ nguồn lực trong nước.

Toàn dụng được đầy đủ nguồn lực trong nước có nghĩa là nền kinh tế đang sử dụng tất cả các nguồn lực đầu vào (lao động, vốn, đất đai, v.v.) để phát huy hết tiềm năng của nó. Tuy nhiên thì ngay cả khi nền kinh tế đang ở mức toàn dụng nguồn lực thì vẫn xảy ra tình trạng thất nghiệp tự nhiên trong thị trường lao động và điều này là không thể tránh khỏi.

BELLY UP / PHÁ SẢN

ĐỊNH NGHĨA

Một từ lóng được sử dụng để mô tả sự thất bại hoàn toàn và ê chề của một cá nhân, công ty, ngân hàng, dự án phát triển, v.v ... Thuật ngữ phá sản được dùng để mô tả việc một tổ chức tài chính gặp thất bại và bị ép buộc phải đóng cửa bởi các nhà quản lý.

GIẢI THÍCH

Từ điển tiếng Anh Oxford có ghi lại rằng thuật ngữ này được sử dụng lần đầu tiên là vào năm 1920 trong một tác phẩm của tiểu thuyết gia John Dos Passos. Trong một cuộc khủng hoảng tài chính trên khắp thành phố New York vào năm 1975, một nhà bình luận của tờ Washington Post đã tuyên bố rằng: "Nếu New York có thể phá sản thì không có lí do gì không đến lượt bất kì thành phố nào khác trên cả nước."

BLACK'S MODEL / MÔ HÌNH BLACK

ĐỊNH NGHĨA

Một biến thể của mô hình định giá quyền chọn Black-Scholes phổ biến cho phép định giá các quyền chọn trên hợp đồng tương lai. Mô hình của Black được sử dụng trong việc áp dụng các khoản vay có lãi suất thay đổi giới hạn và cũng được áp dụng cho các chứng khoán phái sinh giá, chẳng hạn như quyền chọn trái phiếu và hoán đổi.

GIẢI THÍCH

Năm 1976, Fisher Black, một trong những nhà phát triển mô hình Black-Scholes (được công bố năm 1973), đã trình bày cách mô hình Black-Scholes có thể được điều chỉnh để định giá cuộc huy động châu Âu hoặc đưa ra các lựa chọn cho các hợp đồng tương lai. Vì lý do này, mô hình Black cũng được gọi là mô hình Black-76.

BLACKOUT PERIOD / THỜI GIAN NGHỈ CHỜ

ĐỊNH NGHĨA

1. Một thuật ngữ đề cập đến một khoảng thời gian tạm thời trong đó quyền truy cập bị hạn chế hoặc bị từ chối.
2. Thời gian khoảng 60 ngày, trong đó nhân viên của một công ty có kế hoạch nghỉ hưu hoặc kế hoạch đầu tư không thể điều chỉnh được kế hoạch của họ. Thông báo phải được đưa ra cho nhân viên trước khi nghỉ chờ.

GIẢI THÍCH

1. Thuật ngữ này thường liên quan đến hợp đồng, chính sách và hoạt động kinh doanh. Ví dụ: khi một đảng chính trị không thể quảng cáo trong một khoảng thời gian nhất định trước một cuộc bầu cử.

2. Trong một công ty, thời gian nghỉ chờ có thể xảy ra do một kế hoạch đang được cơ cấu lại hoặc thay đổi, ví dụ, nếu một quỹ hưu trí đang chuyển từ một người quản lý quỹ sang một ngân hàng khác tại một ngân hàng khác.

BLACK-LITTERMAN MODEL / MÔ HÌNH BLACK-LITTERMAN

ĐỊNH NGHĨA

Một mô hình phân bổ tài sản được phát triển bởi Fischer Black và Robert Litterman của Goldman Sachs. Mô hình Black-Litterman về cơ bản là sự kết hợp của hai lý thuyết chính của lý thuyết danh mục đầu tư hiện đại, Mô hình định giá tài sản vốn (CAPM) và lý thuyết tối ưu hóa phương sai trung bình của Harry Markowitz.

GIẢI THÍCH

Lợi ích chủ yếu của mô hình Black-Litterman là cho phép người quản lý danh mục đầu tư sử dụng như một công cụ để tạo ra một tập hợp lợi nhuận dự kiến trong khung tối ưu hóa phương sai trung bình. Điều này có thể cho phép người quản lý tránh một số vấn đề hoặc vấn đề sẵn có trong khung tối ưu hóa phương sai trung bình của Markowitz, chẳng hạn như việc tập trung tài sản danh mục đầu tư chỉ trong một số ít tài sản được tối ưu hóa.

BLACKBOARD TRADING / GIAO DỊCH BẢNG ĐEN

ĐỊNH NGHĨA

Việc mua và bán các hàng hóa và hợp đồng tương lai ra khỏi bảng đen được tìm thấy trên tường của một sàn giao dịch hàng hóa. Các chuyên gia giao dịch đen đã viết đấu thầu và cung cấp trên bảng lớn và khi một mức giá phù hợp xuất hiện, giao dịch đã được thực hiện.

Còn được gọi là "đăng bài", giao dịch bảng đen quá chậm để theo kịp khối lượng giao dịch và bắt đầu được thay thế bằng bảng báo giá tự động vào năm 1969.

GIẢI THÍCH

Sàn giao dịch chứng khoán Mỹ đã thử nghiệm các bảng báo giá tự động đầu tiên, có thể hiển thị điện tử các báo giá hiện tại và giá gần đây nhất của hơn 100 chứng khoán.

Ngày nay, các chương trình phần mềm cho phép thực hiện giao dịch tự động mà không cần sự trợ giúp của đại lý, chuyên gia hoặc nhà tạo lập thị trường, thông qua mạng truyền thông điện tử và sàn giao dịch chứng khoán điện tử. Các hệ thống này được lập trình để khớp lệnh mua và bán cho cùng một số lượng cổ phiếu ở cùng một mức giá.

KIEN THUC KINH TE